Que thử Albumin/Creatinine (Microalbumin) trong nước tiểu

Liên hệ mua hàng: (+84) 915.472.077

Tìm hiểu về viêm cầu thận:

Viêm cầu thận mạn tính là một quá trình tổn thương thực thể xảy ra ở tất cả các cầu thận của hai thận; bao gồm các tình trạng tăng sinh, phù nề, xuất tiết và hoại tử hyalin, xơ hoá một phần hoặc toàn bộ cầu thận. Bệnh tiến triển mạn tính qua nhiều tháng, nhiều năm dẫn đến xơ teo cả 2 thận.

I. Tìm hiểu về Căn nguyên của viêm cầu thận mạn tính:

1. Viêm cầu thận mạn tính không rõ căn nguyên:

– Viêm cầu thận tăng sinh gian mạch

– Viêm cầu thận tăng sinh ổ, đoạn

– Xơ hoá cầu thận ổ, đoạn

– Viêm cầu thận màng

– Viêm cầu thận màng tăng sinh

– Viêm cầu thận tăng sinh ngoài mao mạch hay còn gọi là viêm cầu thận ác tính

2. Viêm cầu thận mạn thứ phát:

– Bệnh lý cầu thận do Collagenose

– Tổn thương cầu thận do bệnh lý mạch máu

– Hội chứng Goodpasturê

– Đái tháo đường

– Viêm cầu thận do nhiễm khuẩn

– Viêm cầu thận do nhiễm độc

– Viêm cầu thận mạn tính do lắng đọng các protein bất thường

– Bệnh cầu thận do các bệnh lý ác tính

II. Hậu quả là:

1. Tăng tính thấm màng nền cầu thận

2. Tăng đông máu

3. Tăng hoá ứng động bạch cầu, thu hút bạch cầu đến ổ viêm, tăng quá trình thực bào, tăng tiêu huỷ bởi các men được giải phóng từ lyzosome, bradykinin, C5a, và NCF (neutrophil chemotaxicis factor)

4. Sự hoạt hoá của C5b kích thích quá trình kết dính của C7, C8 và C9 trên màng nền tế bào và màng nền cầu thận làm thay đổi cấu trúc của màng nền.Hậu quả hoạt động của các hệ thống sinh học và của các tế bào đã gây tổn thương cầu thận với hiện tượng tăng sinh tế bào, phù nề, xuất tiết, hoại tử, xơ hoá cầu thận.

III. Triệu chứng của viêm cầu thận mạn:

Phù
Tăng huyết áp (THA)
Thiếu máu
Những biến đổi ở nước tiểu
Những biến đổi ở nước tiểu:

Triệu chứng lâm sàng của viêm cầu thận mạn tính có khi rất nghèo nàn, đến nỗi bệnh nhân không biết mình bị bệnh nếu không làm xét nghiệm nước tiểu. Ngược lại biến đổi ở nước tiểu bao giờ cũng có và hằng định.
– Protein niệu trong 24 giờ gần như thường xuyên dương tính và giao động trong khoảng 0,5-3 g/ngày. Protein niệu (+++) thường gặp ở mẫu nước tiểu lúc sáng sớm mới ngủ dậy. Những mẫu nước tiểu kế tiếp sau đó có thể âm tính; protein niệu cách hồi. Vì vậy khi protein niệu (-) thì phải làm protein niệu 24h.
Số lượng protein niệu ít có giá trị về tiên lượng nhưng có ý nghĩa về chẩn đoán và là chỉ tiêu đánh giá kết quả điều trị.
– Hồng cầu niệu: 60- 80% viêm cầu thận mạn tính có hồng cầu niệu. Theo nhiều tác giả, hồng cầu niệu là một dấu hiệu chứng tỏ bệnh đang ở giai đoạn tiến triển. Ở bệnh nhân viêm cầu thận mạn tính, sau điều trị mà protein niệu âm tính nhưng hồng cầu niệu vẫn dương tính thì nguy cơ bệnh tái phát vẫn còn.
– Trụ niệu:
. Trụ trong là những protein khuôn theo lòng ống thân chưa thoái hoá hoàn toàn, giống như những sợi miến chín.
. Trụ sáp: là những protein niệu đã thoái hoá do môi trường toan của nước tiểu.
. Trụ hình hạt, trong đó có nhiều hạt nhỏ: trước đây người ta cho rằng trụ hình hạt là dấu hiệu đặc trưng của viêm cầu thận mạn tính. Một số tác giả cho rằng thành phần của trụ hình hạt là IgM. Hiện nay, người ta cho rằng các trụ trong, trụ sáp, trụ hình hạt là biểu hiện của protein niệu

Đái tháo đường – một trong những nguyên nhân:

Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hoá thường gặp nhất và là một bệnh xã hội. Bệnh gây tổn thương rất nhiều cơ quan trong đó có thận: xơ hoá cầu thận, xơ hoá trong khoang Bowmann tạo thành một vòng xơ sợi ôm lấy cuộn mạch cầu thận.
Biểu hiện lâm sàng bằng hội chứng viêm cầu thận mạn tính, hội chứng thận hư, xơ tiểu động mạch thận-thận lành tính hoặc xơ hoá động mạch thận-thận ác tính. Suy thận giai đoạn cuối là một trong những nguyên nhân tử vong của đái tháo đường.

Trích “Viêm cầu thận mạn tính” của BS. Hoàng Đàn (Bệnh học nội khoa HVQY)